Tốp.vn Top list những thứ hay ho trong cuộc sống

Blog Tốp.vn những thứ hay ho trong cuộc sống

Top 10 Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới mọi thời đại – Tốp.vn

1

Pele

Ông vua của bóng đá Pele sinh ngày 23/10/1940 tại đất nước Brazil xinh đẹp. Nơi đây chính là cái nôi đào tạo ra rất nhiều cầu thủ bóng đá nổi tiếng trong đó có Pele. Pele có tên thật là Edson Arantes do Nascimento và ông thi đấu chủ yếu cho đội bóng quốc gia Brazil. Nói Pele là ông vua của nền bóng đá cũng không ngoa vì ông luôn gây được những ấn tượng lớn trên sân cỏ và gặt hái được rất nhiều thành công cho bản thân và đưa đội tuyển nước nhà đến thành công. Thật vậy, nhờ có ông mà cái tên Brazil trở thành tượng đài danh giá trong nền bóng đá thế giới.

Huyền thoại người Brazil nổi tiếng cả trong và ngoài sân cỏ. Khi còn là cầu thủ, Pele từng giành 3 chức vô địch World Cup vào các năm 1958, 1962 và 1970. Được mệnh danh là Vua bóng đá và trở thành cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại trong cuộc bầu chọn của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Pele có sức ảnh hưởng rõ nét trong làng túc cầu thế giới. Sau khi giải nghệ, huyền thoại người Brazil thường tham gia dự đoán trước những giải đấu lớn. Đáng tiếc là ông chưa một lần thành công trong lĩnh vực này.

youtube.com/embed/hRjHChW5YAg”]

Huyền thoại bóng đá Pele
Huyền thoại bóng đá Pele
Huyền thoại bóng đá Pele
2

Maradona

Diego Armando Maradona sinh 30 tháng 10 năm 1960 tại Buenos Aires là cựu cầu thủ bóng đá người Argentina. Ông từng tham dự 4 kỳ FIFA World Cup và nhận được nhiều danh hiệu cao quý, trong đó có danh hiệu Cầu thủ của thế kỉ do khán giả trên mạng bình chọn (danh hiệu do FIFA bình chọn thuộc về Pelé) và xếp thứ 2 trong Danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế giới thế kỷ 20 của World Soccer chỉ sau Pelé. Ngoài những trận đấu cho Los Cebollitas, Maradona, ở tuổi 12, đã bắt đầu thi đấu cho một số đội bóng ở hạng dưới của Argentinos. Do Diego chưa đủ tuổi đăng ký thi đấu nên huấn luyện viên của các đội bóng này buộc phải khai gian tuổi cho cậu và thậm chí là đăng ký cho Maradona thi đấu dưới một cái tên khác. Giai đoạn thi đấu tạm này của Maradona kéo dài chẳng bao lâu vì khi vừa tròn 16 tuổi cậu đã được gọi ngay vào đội hình chính của câu lạc bộ Argentinos Juniors.

Với biệt danh “Cậu bé vàng”, ông được coi là một trong những cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất mọi thời đại. Maradona giành được nhiều danh hiệu với Boca Juniors, Barcelona và Napoli trong sự nghiệp của mình. Ông khoác áo đội tuyển quốc gia Argentina 91 lần và ghi được 34 bàn thắng, tham dự 4 World Cup, dẫn dắt đội tuyển Argentina vô địch World Cup 1986, và giành luôn danh hiệu “Cầu thủ xuất sắc nhất” ở giải đấu này. Bàn thắng thứ hai trong trận gặp Anh ở giải đấu đó, một pha dẫn bóng đến 60 mét, lừa qua 6 cầu thủ Anh, được coi là Bàn thắng thế kỷ hoặc ở Argentina là El barrilete cósmico (tiếng Tây Ban Nha). Ngoài tài năng bóng đá, Maradona còn nổi tiếng vì phong cách chơi rất thiếu fair-play của mình. Ông từng ghi bàn bằng tay trong trận tứ kết World Cup 1986 trên đất México khi đối đầu với đội tuyển Anh và hơn nữa, sử dụng chất kích thích: bị treo giò 15 tháng vào năm 1991, sau khi thử nghiệm với cocaine có kết quả dương tính ở Ý, một lần treo giò nữa khi dùng ephedrine tại giải World Cup 1994 ở Mỹ.

Maradona tại World Cup 1986
Maradona tại World Cup 1986

youtube.com/embed/kJ5HPWxYEk4″]

Diego Armando Maradona
3

Johan Cruyff

Johan Cruijff tên đầy đủ là Hendrik Johannes Cruijff (sinh 25 tháng 4 năm 1947 tại Amsterdam – 24 tháng 3 năm 2016 tại Barcelona), là một cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Hà Lan. Khi là cầu thủ, ông từng giành giải thưởng Quả Bóng Vàng ba lần (1971, 1973 và 1974. Cruijff là một trong những thành viên nổi tiếng nhất của triết lý bóng đá có tên Bóng đá tổng lực do Rinus Michels tạo ra. Trong thập niên 1970, bóng đá Hà Lan phát triển từ một nền bóng đá ít tên tuổi trở thành một thế lực. Cruyff dẫn dắt đội tuyển Hà Lan vào đến chung kết Giải bóng đá vô địch thế giới 1974 và đoạt được danh hiệu Quả bóng vàng dành cho cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu đó. Cruyff thành thạo năm ngoại ngữ.Với biệt danh “Thánh Johan”, ông được coi là cầu thủ Hà Lan xuất sắc nhất mọi thời đại và là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất lịch sử bóng đá thế giới.

Tại cấp độ câu lạc bộ, Cruyff khởi nghiệp tại Ajax. Ông đã cùng câu lạc bộ 8 lần vô địch quốc gia và giành ba Cúp C1 châu Âu. Năm 1973 ông chuyển đến FC Barcelona và lập Kỷ lục chuyển nhượng cầu thủ bóng đá mới. Ông có được danh hiệu La Liga cùng đội bóng ngay mùa đầu tiên và giành Quả bóng vàng châu Âu năm đó. Sau khi giải nghệ vào năm 1984, Cruyff cũng có nhiều thành công trong sự nghiệp huấn luyện viên với Ajax và FC Barcelona. Sau này ông vẫn là một cố vấn có ảnh hưởng ở hai câu lạc bộ. Con trai ông Jordi cũng là một cầu thủ chuyên nghiệp. Tháng 10 năm 2015, Cruyff, từng nghiện hút thuốc nặng, bị chẩn đoán mắc ung thư phổi. Ông qua đời vì bệnh này ngày 24 tháng 3 năm 2016. Được gọi với biệt danh là Thánh Cruyff, cựu cầu thủ Ajax Amsterdam là biểu tượng của lối bóng đá tổng lực của Hà Lan.

Johan Cruyff tại World Cup 1974 khi Hà Lan thất bại trước đội tuyển Đức
Johan Cruyff tại World Cup 1974 khi Hà Lan thất bại trước đội tuyển Đức
Johan Cruyff cùng Barcelona vô địch Champions League 1992
Johan Cruyff cùng Barcelona vô địch Champions League 1992
4

Franz Beckenbauer

Franz Anton Beckenbauer sinh ngày 11 tháng 9 năm 1945 là huấn luyện viên, quản lý, cựu cầu thủ bóng đá người Đức. Ông có biệt danh “der Kaiser”, trong tiếng Đức có nghĩa là hoàng đế, bởi ông có một phong cách thanh lịch, khả năng lãnh đạo nổi tiếng. Tên đầu của ông, Franz, làm liên tưởng đến các hoàng đế nước Áo. Nhờ khả năng chiếm lĩnh sân cỏ xuất sắc của ông, ông được coi là cầu thủ bóng đá người Đức vĩ đại nhất mọi thời đại và cũng là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá. Cầu thủ đa tài này khởi đầu ở vị trí tiền vệ, tuy nhiên ông có khả năng thích nghi với nhiều vị trí trên sân. Ông được công nhận là người đã sáng tạo ra vị trí libero (hay còn gọi là hậu vệ quét) hiện đại và nổi tiếng khi thi đấu trong vị trí này. Beckenbauer đã giành Quả Bóng Vàng 2 lần vào các năm 1972 và 1976.

Đã hai lần từng được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu, Beckenbauer đã 103 lần khoác áo đội tuyển Tây Đức và ghi 5 bàn trong hai giải World Cup. Ông đoạt chức vô địch World Cup với tư cách đội trưởng năm 1974 và lặp lại kỳ tích tương tự với tư cách huấn luyện viên năm 1990. Cùng với Bayern München, ông giành được ba lần chức vô địch châu Âu, liên tiếp từ 1974 đến 1976 và cúp C2 năm 1967. Sau đó ông trở thành huấn luyện viên và chủ tịch liên đoàn bóng đá. Ngày nay, Beckenbauer vẫn là một nhân vật quan trọng đối với cả bóng đá Đức cũng như bóng đá thế giới. Ông đóng vai trò quan trọng giúp Đức thắng lợi trong việc được đăng cai giải World Cup năm 2006 và ông kiêm chức vụ chủ tịch ủy ban điều hành của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh năm 2006. Ông có 1 câu nói nổi tiếng và được xem là một trong những triết lý trong bóng đá: “Kẻ mạnh chưa chắc đã là kẻ chiến thắng, mà kẻ chiến thắng mới chính là kẻ mạnh”.

youtube.com/embed/Rq1qLLPv0Qc”]

Beckenbauer
Beckenbauer
Beckenbauer
5

Michel Platini

Michel François Platini sinh ngày 21 tháng 6 năm 1955 tại Jœuf, Pháp là một cựu cầu thủ của Juventus, cựu huấn luyện viên bóng đá và cũng là cựu Chủ tịch Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) từ năm 2007 đến năm 2016. Khi còn là cầu thủ, ông đã giành được 3 Quả Bóng Vàng liên tiếp các năm 1983, 1984 và1985. Trong sự nghiệp cầu thủ, Platini từng khoác áo các câu lạc bộ Nancy, Saint-Étienne và Juventus. Platini là thành viên đội tuyển Pháp vô địch châu Âu năm 1984, giải đấu mà ông đồng thời là cầu thủ xuất sắc nhất và vua phá lưới. Ông cũng từng tham dự các World Cup 1978, 1982 và 1986, với thành tích hạng ba năm 1986 và hạng tư năm 1982. Platini cùng với Alain Giresse, Luis Fernández và Jean Tigana đã tạo nên Bộ tứ huyền ảo, hàng tiền vệ là trái tim của đội tuyển Pháp trong suốt thập niên 1980. Ông từng 3 lần được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu.

Platini từng là huấn luyện viên dẫn dắt đội tuyển Pháp ở Euro 92. Ông cũng là đồng Chủ tịch Ban tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 1998 (người còn lại là Fernand Sastre) ngay trên quê hương, giải đấu mà đội tuyển Pháp đã đoạt chức vô địch. Ngày 26 tháng 1 năm 2007, Michel Platini đã đắc cử chức Chủ tịch UEFA sau cuộc họp Ban chấp hành Liên đoàn bóng đá châu Âu, tổ chức tại thành phố Dusseldorf (Đức). Michel Platini giành được 27 phiếu bầu, hơn 4 phiếu so với Chủ tịch đương nhiệm Lennart Johansson (có tổng cộng 52 phiếu, 2 phiếu trống). Ngày 10 tháng 5 năm 2016, ông chính thức tuyên bố từ chức chủ tịch UEFA sau khi thất bại trong nỗ lực kháng cáo lên Tòa án Trọng tài Thể thao quốc tế (CAS) về án phạt cấm tham gia mọi hoạt động bóng đá.

Michel Platini là cầu thủ hào hoa trên sân cỏ
Michel Platini là cầu thủ hào hoa trên sân cỏ

youtube.com/embed/_5XKJZ8PIN0″]

Michel François Platini
6

Alfredo di Stefano

Alfredo di Stéfano sinh ngày 4 tháng 7 năm 1926 tại Barracas, Buenos Aires, Argentina – mất ngày 7 tháng 7 năm 2014 tại Madrid, Tây Ban Nha là cố cầu thủ bóng đá kiêm huấn luyện viên gốc Argentina. Tên tuổi của ông gắn bó với CLB Real Madrid, và là đối tác ăn ý trên hàng công cùng với Ferenc Puskás trong suốt thời kỳ CLB này thống trị các cúp vô địch châu Âu trong thập niên 1950, đó là thời kì mà Real Madrid dành 5 chiếc cúp vô địch châu Âu liên tiếp từ 1956. Di Stéfano cũng từng chơi trong màu áo 3 đội tuyển quốc gia là Argentina, Colombia và Tây Ban Nha. Ông từng 2 lần giành Quả Bóng Vàng vào các năm 1957, 1959. Ông là một trong những cầu thủ xuất sắc và vĩ đại nhất lịch sử bóng đá. Di Stéfano với biệt danh Saeta rubia đã được ghi danh vào International Football Hall of Fame. Ông là một tiền đạo mạnh mẽ với thể lực tuyệt vời, sự linh hoạt trong chiến thuật và một nhãn quan sắc nhọn.

Ông là tay săn bàn xuất sắc thứ 3 mọi thời đại trong lịch sử giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha (hiện gọi là La Liga), với thành tích 228 bàn trong 329 trận, chỉ sau có Hugo Sánchez (234 bàn) và Telmo Zarra (251 bàn). Di Stéfano cũng là tay săn bàn xuất sắc nhất tại cúp nội địa trong lịch sử Real Madrid, với 216 bàn trong 285 trận ở giải nội địa từ giai đoạn 1953 đến 1964. Tháng 11 năm 2003, để chúc mừng lễ kỉ niệm 100 năm của FIFA, Di Stéfano đã được Liên đoàn bóng đá hoàng gia Tây Ban Nha chọn là cầu thủ vàng của bóng đá Tây Ban Nha, cầu thủ nổi bật nhất của bóng đá nước này 50 năm qua. Ông được Pelé chọn vào danh sách 125 huyền thoại sống của bóng đá thế giới tháng 3 năm 2004. Ngoài ra, ông còn đứng ở vị trí thứ 4 bên cạnh Pelé, Diego Maradona, Johan Cruijff trong cuộc bầu chọn bởi các danh thủ từng đoạt quả bóng vàng châu Âu được tổ chức bởi tạp chí bóng đá hàng tuần của Pháp France Football để chọn ra cầu thủ của thế kỉ. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 2014 tại thành phố Madrid, Tây Ban Nha.

Huyền thoại tại Real Madrid Di Stefano
Huyền thoại tại Real Madrid Di Stefano

youtube.com/embed/bCAlqBamBjs”]

Alfredo di Stéfano
7

Ferenc Puskas

Ferenc Puskás Biró sinh ngày 02 tháng 4 năm 1927 – mất 17 tháng 11 năm 2006, tên thật là Puskás Ferenc hoặc Purczeld Ferenc, là một cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Hungary. Với biệt danh “Thiếu tá siêu tốc” hay “Thiên Nga trắng”, ông là cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Hungary, và là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, xếp thứ 7 trong Danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế giới thế kỷ 20 của World Soccer; ông đã ghi được 84 bàn thắng trong 85 trận đấu quốc tế cho đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary cùng với 4 trận dưới màu áo đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha (không có bàn thắng) và 511 bàn thắng trong 533 trận đấu trong các giải vô địch Hungary và Tây Ban Nha. Mặc dù không có được những yếu tố cần thiết mà một tiền đạo điển hình cần có như chiều cao, khả năng tranh bóng trên không… Nhưng bù lại, Puskas lại sở hữu một chiếc chân trái vô cùng khéo léo, cùng tốc độ của một chiếc phi cơ.

Ông đã ghi tổng cộng 83 bàn thắng trong 84 lần khoác áo ĐTQG Hungary. Kỷ lục ấy được Puskas giữ suốt thế kỷ trước và chỉ bị phá vỡ bởi tiền đạo người Iran – Ali Daei vào năm 2003 (cầu thủ này đã ghi được 109 bàn thắng cho ĐTQG, nhưng cựu cầu thủ của Bayern Munich phải mất đến 149 trận đấu). Khi nói về thành công của cá nhân, Puskas đã rất khiêm tốn khi cho rằng chính những đồng đội của ông mới là “ngọn nguồn” giúp ông được vinh danh trong lịch sử bóng đá. Quả thực, thế hệ vàng của Hungary đã sản sinh ra những cá nhân tài năng như Zoltán Czibor, József Bozsik, Sandor Kocsis và Nándor Hidegkuti. Đặc biệt, khi hầu hết các đội bóng bấy giờ còn chơi khá hoang dại, với sơ đồ chiến thuật gồm hầu hết là tiền đạo, thì Hungary đã biết áp dụng phong cách khoa học vào lối chơi.

Ferenc Puskas trong màu áo Đội tuyển Hungary
Ferenc Puskas trong màu áo Đội tuyển Hungary
Ferenc Puskás Biró
Ferenc Puskás Biró
8

Lionel Messi

Messi sinh ngày 24 tháng 6 năm 1987, là một cầu thủ bóng đá người Argentina hiện đang chơi cho câu lạc bộ Barcelona và đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina. Messi được coi là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại và là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới ở thời điểm hiện tại. Anh là chủ nhân của 6 Quả bóng vàng vào các năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2015, và 2019. Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA 6 lần, cầu thủ đầu tiên và duy nhất tới nay 6 lần giành Chiếc giày vàng châu Âu. Lối chơi của anh thường được so sánh với Diego Maradona, người tự coi Messi là “truyền nhân” của mình.

Messi là vua phá lưới Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2005 với 6 bàn, bao gồm 2 bàn ở trận chung kết. Một thời gian sau đó, anh bị gọi vào đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina. Vào năm 2006, anh trở thành cầu thủ Argentina trẻ nhất thi đấu tại World Cup và về đích ở vị trí thứ nhì ở Copa América 2007. Năm 2008, tại Olympic Bắc Kinh, anh có danh hiệu đầu tiên ở cấp độ quốc tế khi cùng ĐT Olympic Argentina giành huy chương vàng Olympic. Hiện anh đang là cầu thủ có số bàn thắng nhiều nhất cho Đội tuyển Argentina. Là đội trưởng đội tuyển quốc gia từ tháng 8 năm 2011, anh cùng đội lọt vào chung kết của ba giải đấu lớn liên tiếp: World Cup 2014, giải đấu anh đã giành Quả bóng Vàng, cùng với hai kỳ Copa America năm 2015 và 2016. Sau khi thông báo từ giã tuyển quốc gia vào năm 2016, anh đã rút lại quyết định của mình và đưa đội tuyển Argentina vượt qua vòng loại World Cup 2018. Ngày 31 tháng 7, Messi lập kỷ lục trở thành cầu thủ đoạt nhiều giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA nhất (6 lần). Ngày 2 tháng 12 năm 2019, tại lễ trao giải Quả bóng vàng lần thứ 64 ở Paris, Pháp, Messi đoạt Quả bóng vàng kỷ lục lần thứ 6, trở thành cầu thủ đầu tiên giành 6 Quả bóng vàng, hơn Cristiano Ronaldo.

Messi
Messi
Messi
Messi
9

Eusebio

Eusébio da Silva Ferreira sinh ngày 25 tháng 1 năm 1942, mất ngày 5 tháng 1 năm 2014, thường được biết đến với cái tên Eusébio, là một cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha gốc Mozambique, chơi ở vị trí tiền đạo. Ông giúp Bồ Đào Nha có vị trí thứ 3 tại World Cup 1966, đồng thời đoạt danh hiệu vua phá lưới của giải đấu. Eusébio được bầu là Quả Bóng Vàng năm 1965. Ông từng chơi 15 năm cho câu lạc bộ Benfica và là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử đội bóng này. Ông giành được danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu năm 1965 và là cầu thủ đầu tiên đoạt được danh hiệu Chiếc giày vàng châu Âu vào năm 1968, danh hiệu cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất châu Âu trong một mùa bóng. Thành tích này được ông tái lập năm năm sau (1973). Là vua phá lưới Giải vô địch bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha 7 lần trong khoảng thời gian từ 1964 đến 1973, ông đã giúp Benfica giành được 11 danh hiệu vô địch quốc gia (1961, 1963-1965, 1967-1969, 1971-1973, 1975) và 5 Cúp quốc gia (1962, 1964, 1969, 1970, 1972). Ông ghi được 727 bàn thắng trong 715 trận đấu trong màu áo Benfica bao gồm 317 bàn thắng trong 301 trận đấu ở giải vô địch Bồ Đào Nha.

Với biệt danh “Báo đen” hay “Viên ngọc đen”, Eusébio nổi tiếng với tốc độ, sức mạnh cùng những cú sút chân phải đầy uy lực. Ông được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Bồ Đào Nha và là tiền đạo đẳng cấp thế giới đầu tiên người châu Phi. Ông được bầu ở vị trí thứ 9 trong cuộc bình chọn Cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất thế kỉ 20 của IFFHS. Năm 2004, Pelé cũng đưa Eusébio vào danh sách 125 cầu thủ còn sống vĩ đại nhất. Tháng 11/2003, để chào mừng lễ kỷ niệm của UEFA, ông được liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha chọn là cầu thủ vàng (Golden Player) của bóng đá nước này, cầu thủ xuất chúng nhất của Bồ Đào Nha trong 50 năm qua. Trong sự nghiệp thi đấu của mình, ông đã ghi tổng cộng 1137 bàn thắng. Ông trở thành một trong 3 cầu thủ ghi được trên 1000 bàn thắng trong sự nghiệp, đó là Pelé (1281 bàn thắng) và Romário (1000 bàn thắng).

Eusebio trong màu áo đội tuyển Bồ Đào Nha
Eusebio trong màu áo đội tuyển Bồ Đào Nha
Eusébio da Silva Ferreira
Eusébio da Silva Ferreira
10

George Best

George Best sinh ngày 22 tháng 5 năm 1946, mất ngày 25 tháng 11 năm 2005 là một cầu thủ bóng đá người Bắc Ireland, nổi tiếng với quãng thời gian chơi cho Manchester United. Ông chơi ở vị trí tiền vệ cánh, là cầu thủ sở hữu tốc độ, kĩ thuật, thăng bằng, khả năng tạo khoảng trống, sút tốt hai chân, khả năng ghi bàn và đánh lừa hậu vệ đối phương. Năm 1968, ông giành chức vô địch châu Âu với Manchester United đồng thời giành danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu cùng năm. Khi khỏe mạnh, ông luôn là sự lựa chọn của đội tuyển Bắc Ireland, dù chưa một lần dẫn dắt đội đến một kỳ World Cup nào. Năm 1999, ông được bầu đứng thứ 11, sau Marco Van Basten, trong cuộc bầu chọn cầu thủ châu Âu xuất sắc nhất thế kỷ tổ chức bởi IFFHS. Best cũng được bầu ở vị trí thứ 16, sau Lothar Matthäus, trong cuộc bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ.

Pelé bầu ông là một trong 125 huyền thoại bóng đá sống của thế kỷ năm 2004. Ông được xếp thứ 8 trong Danh sách 100 cầu thủ hay nhất thế giới thế kỷ 20 của World Soccer. Best là một trong những cầu thủ ngôi sao đầu tiên trong bóng đá, tuy nhiên cuộc sống phóng túng quá mức đã lôi ông tới với rượu, thứ đã rút ngắn sự nghiệp thi đấu của Best và cũng là thứ đã dẫn đến cái chết của ông ở tuổi 59. Nguyên nhân cái chết của Best là do ảnh hưởng của thận, do sốc thuốc. Tạp chí GQ bầu ông là một trong những người đàn ông phong cách nhất trong năm mươi năm qua. Khoảng 100.000 người đã có mặt trong đám tang của ông tại quê hương Belfast.

youtube.com/embed/nplemK3Y4ns”]

Những pha bóng đẹp mắt của George Best
George Best
George Best

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.